Chuyên mục
cố gắng đức tin khó khăn nghị lực Thiên Chúa ý chí

Người không muốn cậu giống như con cáo, mà muốn cậu giống như con sư tử

Ngày xửa ngày xưa, có một chàng trai rất lười biếng. Anh ta luôn muốn tìm cách kiếm sống dễ dàng hơn để nuôi bản thân. Một ngày nọ khi anh ta đang tìm thứ gì đó để ăn thì thấy một trang trại trồng cây ăn quả…

Anh ta nhìn quanh và không thấy ai trông giữ trang trại nên quyết định sẽ ăn trộm một vài quả. Nhưng ngay khi anh ta trèo lên cây thì người nông dân đã nhìn thấy và chạy đến để bắt anh. Chàng trai lười biếng nhìn thấy người nông dân cầm gậy chạy đến thì sợ quá liền chạy trốn vào khu rừng gần đó.

Sau một khoảng thời gian loanh quanh trong khu rừng thì bỗng nhiên anh nhìn thấy một cảnh tượng “kỳ lạ”. Có một con cáo đang chơi đùa một mình. Nó chỉ có hai chân nhưng vẫn bò trên mặt đất một cách hạnh phúc. Chàng trai lười biếng nghĩ: “Làm sao con cáo này có thể sống trong tình trạng như vậy?! Nó không thể chạy, làm thế nào nó có thể tự kiếm ăn hoặc sống sót trước sự đe dọa của các con động vật khác?”

Đột nhiên, anh thấy một con sư tử tiến về phía con cáo với một miếng thịt trong miệng. Tất cả các con động vật quanh đó đều bỏ chạy và chàng trai lười biếng cũng trèo lên cây để tự bảo vệ mình. Nhưng con cáo vẫn ở đó, nó không có khả năng chạy bằng hai chân. Tuy nhiên, những gì xảy ra tiếp theo khiến chàng trai lười biếng vô cùng ngạc nhiên. Con sư tử đã để lại một miếng thịt cho con cáo!

Chàng trai lười biếng cảm thấy hạnh phúc khi thấy “sự an bài của Chúa”. Anh ta nghĩ rằng Chúa là người tạo ra tất cả nên hẳn là luôn có một sự an bài nào đó để chăm sóc cho những gì Người đã tạo ra. Anh cảm thấy rằng chắc Chúa cũng phải có sự an bài nào đó cho mình. Vì vậy, anh ta rời khỏi khu rừng và tìm một chỗ bên vệ đường để ngồi chờ ai đó cũng mang đồ ăn cho mình…

Thời gian trôi qua, chàng trai lười biếng vẫn tiếp tục ngồi nhìn con đường để chờ đợi thức ăn. Anh ta đợi ở đó 2 ngày mà vẫn không có ai mang thức ăn cho! Cuối cùng anh không thể chịu đựng được cơn đói và rời đi.

Anh ta gặp một nhà hiền triết già trên đường đi. Anh kể mọi chuyện xảy ra với nhà hiền triết. Nhà hiền triết cho anh ta một ít thức ăn và nước uống. Sau khi ăn xong, chàng trai lười biếng hỏi nhà hiền triết: “Ôi nhà thông thái, Chúa đã tỏ lòng thương xót đối với con cáo què quặt, nhưng tại sao Chúa lại tàn nhẫn với tôi như vậy?”

Nhà hiền triết già đáp lại với nụ cười: “Đúng là Đức Sáng thế có sự an bài cho mỗi người. Cậu rõ ràng cũng là một phần trong sự an bài của Người. Nhưng con trai, cậu đã hiểu sai điểm hóa của Người. Người không muốn cậu giống như con cáo, mà muốn cậu giống như con sư tử.”

Theo Moral Story
Ngọc Chi biên dịch

Chuyên mục
cha mẹ đức tin gia đình Thiên Chúa tình cha

Chỉ cần cha nhìn thấy con là đủ

Tuần rồi mình được nghe một câu chuyện rất hay và ý nghĩa, mình xin đăng lại câu chuyện lên blog chia sẻ cùng mọi người.

Trong một cơn hỏa hoạn, mọi người đều hoảng loạn chạy ra khỏi nhà, nhưng có một đứa con trai nhỏ, vì quá sợ hãi, đứa trẻ thay vì vượt qua lửa chạy ra ngoài, nó lại cố gắng leo lên cao, lên mái nhà để tránh lửa. Lửa ngày càng cháy cao hơn, khói mù mịt.
Khi cả gia đình chạy ra khỏi nhà, người cha thấy con trai mình đang ở tận trên mái nhà, bây giờ không thể xông vào để mang đứa trẻ ra được.
Người cha kêu lớn “Con hãy nhảy xuống đây”.
Nhưng vì khói lửa lớn, đứa trẻ nhìn xuống không thấy được gì ngoài một màu khói trắng. Đứa con trả lời “Không được đâu, con không nhìn thấy cha.”
Nhưng người cha đã trả lời “Con không nhìn thấy cha, nhưng cha có thể nhìn thấy con. Như vậy là đủ rồi.”
Và thế là đứa trẻ nhắm mắt nhảy xuống, và được người cha đỡ trên đôi bàn tay thân thương.

Các bạn thân mến, chúng ta cũng vậy, như đứa trẻ trong câu chuyện trên. Đôi khi cuộc sống gặp khó khăn, ta lại cầu xin Thiên Chúa, (các đạo khác thì xin Ông Trời) giúp đỡ. Có bao giờ bạn tự hỏi “Sao Thiên Chúa không hiện ra giúp đỡ ta?”. Câu trả lời chính là lời người cha trong câu chuyện trên, “Con không nhìn thấy Cha, nhưng Cha có thể nhìn thấy con. Như vậy là đủ rồi.”

Chuyên mục
đức tin Thiên Chúa

Vua hành khất

Vì muốn biết hoàn cảnh sống thực của dân, nhà vua đã giả làm hành khất. Gặp mưa bão, ngài vào nhà dân xin trọ nhờ, nhưng ai nấy đều từ chối. Sau cùng, nơi một cánh đồng vắng, vua gặp túp lều của một nô lệ rất nghèo trong vương quốc. Chẳng những mở cửa đón tiếp vua, người nô lệ nghèo còn nhóm lửa cho vua sười, chia sẻ với ông mẩu bánh mì khô duy nhất của mình và nhường cái giường ọp ẹp cho “đức vua” ngủ.

Sáng sau, vua tỏ mình ra và nói: “Khi cải trang thế này, ta muốn chia sẻ sự giàu sang với dân, nhưng họ đã xua đuổi ta. Còn ngươi, ngươi không chỉ cho ta trú qua cơn mưa bão, mà còn tặng cho ta tất cả những gì ngươi có: Mẩu bánh duy nhất, lửa để sưởi ấm và giường ngủ của ngươi nữa. Vì tấm lòng của ngươi đối với những người nghèo khổ, từ nay ngươi sẽ được kính trọng như con cái của vua, bởi vì ngươi có “dòng máu tốt” của vua,nhất là vì ngươi cũng có lòng thương người như ta vậy”.

2000 năm trước, Giêsu mặc lấy thân phận con người, đến trần gian. Nay, Ngài vẫn tiếp tục đến chia sẻ sự giàu sang của Ngài tức là hồng ân cứu độ cho nhân loại … qua những anh em khó nghèo. Ai không nhận biết Ngài, Ngài sẽ ra đi: Ai kiên nhẫn đợi chờ, nhận ra và đón tiếp Ngài. Ngài sẽ vào nhà tâm hồn và tỏ mình ra cho kẻ ấy.

Bạn ơi,

“Noel” sắp đến. Xin chỉ cho bạn một cách mừng Noel thật long trọng là hãy tìm “Emmanuen” ở trong những người nghèo khổ mà đón tiếp nhé!

Chuyên mục
đức tin Thiên Chúa

Đôi giày cho Hài Nhi Giêsu

Còn năm ngày nữa là đến lễ Giáng Sinh, xe cộ chật ních ngoài bãi xe trung tâm thương mại, trong siêu thị người ta chen nhau mua sắm. Chân mỏi rã rời, đầu nóng bừng bừng … vì tôi có cả một danh sách dài những người cần tặng quà. Tôi biết dù không thiếu gì nhưng họ sẽ bị tổn thương nếu không nhận được quà của tôi. Cuối cùng tôi cũng tìm được tất cả những gì mình cần mua.

Đợi xếp hàng trả tiền trước tôi là hai đứa bé, bé trai khoảng mười và bé gái cỡ năm tuổi. Cậu bé trai mặc cái quần Jean cũn cỡn, đôi giày rộng và thủng nhiều lỗ, tay cầm mấy tờ giấy bạc nhàu nát. Đứa bé gái cũng chẳng hơn thằng anh nhưng tay lại cầm đôi giày màu vàng thật đẹp. Đến lượt trả tiền, cô bé gái cẩn thận đặt đôi giày lên quầy như thể đó là một kho tàng.

Biết đôi giày giá sáu đồng, cậu bé trai đếm lại tiền, cả những đồng xu trong túi, nhưng tất cả chỉ có ba đồng thôi. Nó buồn bã nhìn em gái rồi nói: “Không đủ tiền em ạ, mai mình sẽ trở lại”. Đứa em gái bật khóc rồi mếu máo: “Nhưng Chúa Giêsu thích đôi giày này mà !”. Thằng anh năn nỉ: “Anh sẽ làm thêm, đừng khóc nữa, mai ta trở lại”.

Nghĩ rằng sự chờ đợi của hai đứa trẻ đáng được thưởng, và dù sao mỗi năm cũng chỉ có một Lễ Giáng Sinh … tôi bèn đưa cho người thu ngân ba đồng.

Thình lình vòng tay nhỏ ôm lấy tôi và có tiếng thì thào: “Cháu cám ơn ông”. Tôi hỏi lại: “Sao cháu biết Chúa Giêsu thích đôi giày này ?” Cậu anh đáp: “Mẹ cháu đau nặng, sắp về trời. Ba cháu nói mẹ sẽ đi trước Lễ Giáng Sinh ở với Chúa Giêsu”. Đứa bé gái chen vào : “Thày dạy giáo lý của cháu bảo con đường dẫn về trời được lát bằng vàng như đôi giày này. Mẹ cháu sẽ đẹp biết chừng nào nếu được đi trên con đường như thế”.

Xót xa khuôn mặt đẫm nước mắt của cô bé, tôi thầm cảm tạ Chúa đã gởi hai thiên thần nhỏ này đến nhắc tôi về tinh thần trao ban, tôi nói: “Chắc chắn mẹ cháu sẽ đẹp lắm”.

Giáng Sinh là trao ban !

Nhưng dĩ nhiên không chỉ là gởi một tấm thiệp, tặng một món quà, mà chính là trao ban tấm lòng của mình như Chúa Giêsu đã tự trao hiến cho nhân loại. Thiếu tình thương thì mọi quà tặng đều vô nghĩa, trống rỗng.

Trao ban thật là trao ban cho đến khi cảm thấy bị hư hao, mất mát. Để trao ban được như thế, phải ra khỏi bản thân đến độ quên mình, vô vị lợi và không mong sự đáp trả nào.

Bạn ơi, bạn nghĩ sao đây ?

Chuyên mục
đức tin Thiên Chúa

Nếu Giêsu không đến

Chuyện Noel “Nếu Giêsu không đến” kể lại vào buổi sáng Giáng sinh, tại bàn làm việc, một mục sư ngủ mơ thấy ngôi nhà quen thuộc của mình không cây Noel, chẳng hoa đèn và dĩ nhiên không cả Hài Nhi Giêsu. Cả khu vực, chẳng có một nhà thờ và ngay tại thư viện, sách viết về Giêsu hoàn toàn biến mất. Ông mơ là mình đi thăm một bà mẹ đang hấp hối và thấy người con trai khóc tấm tức, ông nói: “Tôi có mang theo điều mà tôi nghĩ là có thể an ủi ông”. Mở Kinh Thánh để đọc vài câu hầu an ủi, nhưng ông chỉ gặp những trang giấy trắng.

Ông lại mơ, ông chủ sự nghi lễ an táng cho bà nhưng … không thể đọc được một lời an ủi nào vì sách lễ không viết về niềm hy vọng sống lại, sự sống vĩnh cửu, thiên đàng … mà chỉ còn lại: “Tro bụi trở về bụi tro”… Ông nghĩ Giêsu đã không bao giờ đến, và trong cơn thát vọng ấy ông nức nở. Bỗng giật mình choàng dậy, vui mừng ông hét lên khi nghe ca đoàn hát: “Hỡi các tín hữu hãy hân hoan đến thờ lạy Chúa Kitô Vua các thiên thần, Người đã sinh ra tại Belem”.

Bạn ơi,

Nhân loại không thể nào loại bỏ Giêsu ra khỏi lịch sử. Dù muốn hay không, Ngài đã đến trong lịch sử ấy ghi vao lịch sử ấy một dấu ấn mãi mãi không mất được. Ngài đến mang hòa bình, hy vọng và niềm vui thật cho con người. Ngài không đến để đẩy lui những giới hạn của kiếp người, để cất bỏ khổ đau, nhưng … chính vì Ngài đã đến, nên dù có giới hạn và chồng chất khổ đau … cuộc sống con người đã có ý nghĩa hơn.

Chuyên mục
cuộc sống đức tin trẻ thơ

Tâm Tình Trẻ Thơ Nhân Mùa Giáng Sinh

Thương tặng những trẻ mồ côi đang sống bơ vơ giữa dòng đời!”
(Kim Hà)

“Năm 1994, chúng tôi là hai công dân Hoa Kỳ đã được Bộ Giáo Dục của nước Nga mời đến để nói chuyện với các học sinh trường công lập. Sau đó, chúng tôi cũng được mời đến dạy học ở các nhà tù và các cô nhi viện.

Tại một cô nhi viện kia có chừng 100 trẻ nhỏ, cả trai lẫn gái. Đây là những trẻ bị cha mẹ bỏ rơi, hành hạ hoặc là các trẻ thơ không còn cha mẹ nữa. Các cháu ở trong cô nhi viện do nhà nước quản lý.

Vì là mùa Giáng Sinh nên chúng tôi kể chuyện cho các cháu nghe về lễ Giáng Sinh. Đây là lần đầu tiên mà các cháu được nghe các câu chuyện truyền thống về Giáng Sinh. Các cháu được nghe chuyện Đức Mẹ Maria và Thánh Giuse đến thành Bêlem. Vì ông bà không tìm được nhà trọ nên đành phải tìm một hang lừa, và tại đó, Chúa Giêsu Hài Đồng được sinh ra và đặt nằm trong máng cỏ.

Các trẻ nhỏ và các nhân viên phụ trách đều chú ý lắng nghe một cách thích thú. Có nhiều em cố gắng theo dõi các tình tiết của câu chuyện. Sau khi kết thúc câu chuyện, chúng tôi cho mỗi trẻ ba miếng giấy dầy để làm máng cỏ cho Chúa Giêsu Hài Đồng. Tôi còn tặng thêm một miếng giấy nhỏ cắt từ giấy chùi tay màu vàng mà tôi đem theo. Lúc đó, trong thành phố không thể tìm ra một tờ giấy màu nào cả.

Thế là các em chăm chú làm máng cỏ và cắt giấy nhỏ hơn để làm rơm trong máng cỏ. Tôi lấy một cái áo nỉ và cắt nhỏ ra để làm chăn mền cho Hài Nhi Giêsu. Còn các em thì cắt hình một em nhỏ để làm hình Chúa Giêsu Hài Đồng.

Trong khi các em cô nhi bận rộn làm máng cỏ thì chúng tôi đi chung quanh để xem các em có cần giúp đỡ gì không. Mọi sự diễn tìến tốt đẹp cho đến khi tôi đến gần bàn của một bé trai tên là Misha. Cháu chừng độ 6 tuổi. Cháu đã hoàn tất công việc của mình.

Khi nhìn đến máng cỏ của Misha, tôi giật mình vì trong máng cỏ có đến hai hài nhi, chứ không phải là một Hài Nhi. Tôi vội vã gọi người thông dịch viên đến để hỏi xem tại sao lại có hai em bé.

Bé Misha khoanh tay lại, nhìn vào máng cỏ của mình và nói một cách nghiêm trang. Điều đáng ngạc nhiên là dù đây là lần đầu tiên mà cháu nghe câu chuyện về ý nghĩa của mùa Giáng Sinh, nhưng cháu kể lại câu chuyện một cách rành mạch, cho đến khi Đức Mẹ Maria đặt Chúa Giêsu Hài Đồng vào máng cỏ. Rồi cháu sáng tác ra đoạn cuối của câu chuyện như sau:

“Khi Đức Mẹ Maria đặt Chúa Giêsu Hải Đồng vào máng cỏ, Chúa Giêsu mỉm cười nhìn em và hỏi liệu em có nơi nào để sống không? Em nói với Ngài rằng:

“Thưa Chúa, con không có cha mẹ, và con cũng không có một ngôi nhà để sống!”

Thế rồi Chúa Giêsu bé nhỏ bảo em rằng:

“Con có thể sống chung với Ta!”

Nhưng em trả lời Ngài rằng:

“Thưa Chúa, con không thể sống chung với Ngài vì con không có quà để dâng kính Ngài như những người khác.”

Nói xong, lòng em cứ suy nghĩ xem em có thể dâng tặng cho Chúa Giêsu một điều gì. Cuối cùng, em nghĩ rằng mình có thể sưởi ấm cho Ngài giữa đêm đông lạnh lẽo. Đó có thể là một món quà tốt nhất. Vì thế em thưa chuyện với Chúa Giêsu nhỏ bé rằng:

“Chúa ơi, nếu con làm cho Chúa ấm áp thì Chúa có vui lòng không?”

Chúa Giêsu đáp:

“Ồ, nếu con có thể làm cho Ta được ấm áp thì đó là món quà lớn lao nhất mà Ta nhận được!”

Thế rồi, em vào nằm chung trong máng cỏ với Chúa Giêsu Hài Đồng. Rồi Chúa Giêsu mỉm cười nhìn em và nói rằng:

“Con có thể ở lại với Ta đến muôn đời!”

Khi bé Misha kể xong câu chuyện thì đôi mắt em đầy lệ. Nước mắt em chảy dài trên đôi má. Cháu lấy tay che mặt, rồi gục đầu trên bàn. Đôi vai cháu run rẩy và cháu tiếp tục khóc nức nở.

Thật là một chuyện lạ lùng! Một đứa bé mồ côi 6 tuổi mà có lối suy nghĩ của một triết gia!

Cuối cùng, một đứa bé mồ côi đã tìm được một người bạn không bao giờ bỏ rơi hay đối xử tàn tệ với cháu. Người bạn tốt lành ấy luôn thương yêu và ở bên cạnh cháu. Đó là Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế. Ngài vừa là Thiên Chúa, vừa là con người. Ngài được sinh ra trong cảnh khó nghèo và sống thân phận của một người nghèo khổ.

Tôi học được một bài học là không phải những gì mình có trong cuộc sống là quan trọng, nhưng ai ở trong cuộc sống mình mới là điều quan trọng.

“Vinh Danh Thiên Chúa Trên Trời,
Bình An Dưới Thế cho người thiện tâm!”

Tác giả vô danh
Kim Hà phóng tác

Chuyên mục
cuộc sống đức tin

Khoa Học Và Đức Tin

Vị giáo sư triết học, là người vô thần, không tin có Thượng-Đế, đứng trước lớp học của ông và nói: “Để tôi nói cho các bạn biết là tôn giáo vốn có những điều không ổn đối với khoa học”. Đoạn ông chỉ một người trong đám sinh viên mới của ông và bảo anh ta đứng dậy:

– Này con, con là một người theo đạo Cơ đốc phải không?

– Thưa thầy, phải.
– Vậy thì con tin vào Đức Chúa Trời?
– Vâng, tuyệt đối như vậy.
– Vậy thì Đức Chúa Trời có tốt không?
– Chắn chắn rồi. Ngài tốt.
– Vậy thì Đức Chúa Trời toàn năng? Ngài làm được mọi sự không?
– Vâng.
– Thế con là người thiện hay ác ?
– Kinh Thánh nói con là người ác.
Vị giáo sư hơi nhăn mặt: “A ha! Kinh Thánh!”
Ông trầm ngâm một chút.

Đây, ta hỏi con. Ví dụ như có một người bệnh ở đây và con có thể chữa được cho ông ta. Con có khả năng làm việc đó. Vậy con có muốn giúp ông ta không? Con có muốn thử giúp không?
– Thưa thầy, con sẵn lòng.
– Như vậy con là thiện.
– Con không dám nói như vậy.
– Nhưng tại sao không nói được? Vì con sẵn lòng cứu một người bệnh hoạn tật nguyền. Đa số chúng ta đều sẵn lòng. Nhưng Đức Chúa Trời thì không.
Người sinh viên không trả lời. Do đó vị giáo sư tiếp tục.
“Đức Chúa Trời không giúp, có đúng không? Người em của ta là một người có đạo chết vì bệnh ung thư, măc dù cậu ấy cầu nguyện Chúa Jesus chữa lành cho. Làm sao mà nói rằng Chúa Jesus tốt cho được? Con trả lời điều đó cho ta được không?
Cậu sinh viên vẫn đứng im lặng.
– Con không trả lời được phải không? Vị giáo sư nói. Ông chậm rãi lấy ly nước trên bàn hớp một ngụm để cho cậu sinh viên thời gian thư giãn.
Ông lại nói: “Thôi bắt đầu lại cậu ơi. Này, Đức Chúa Trời có tốt không?”

– Eh… Vâng, tốt, cậu sinh viên nói.
– Thế Satan có tốt không?
Cậu sinh viên không ngần ngại ở chỗ này: “Không!”

– Thế thì Satan từ đâu ra?
Cậu sinh viên yếu ớt: “Từ Chúa mà ra”.
– Đúng thế… Chúa tạo dựng ra Satan phải không? Hãy nói cho ta biết. Thế giới này có điều ác không?”
– Thưa thầy, có.
– Điều ác ở khắp nơi, phải không? Và chính Chúa đã tạo dựng ra Mọi Sự, có đúng vậy không?
– Thưa đúng.
– Vậy thì ai tạo ra điều ác? Vị giáo sư tiếp tục, “Nếu Đức Chúa Trời tạo dựng ra mọi sự, vậy thì Chúa đã tạo ra điều ác, bởi vì điều ác hiện hữu, và theo nguyên tắc khoa học đã định nghĩa, thì Đưc Chúa Trời là ác.
Thêm lần nữa, cậu sinh viên không có câu trả lời.
– Thế những bệnh tật, sự vô luân, thù hận, và những điều xấu xa, tất cả điều đó có thật không? Vị giáo sư nói.
– Vâng, đúng thế. Cậu sinh viên cúi rùn trên hai chân của mình.
– Thế ai đã tạo ra chúng?
Cậu sinh viên lại không trả lời, nên vị giáo sư lập lại câu hỏi.
– Ai đã tạo ra chúng?
Lại vẫn không có câu trả lời. Thình lình, vị giáo sư bỏ đi đến trước lớp học, đi qua đi lại. Cả lớp như chết lặng trong ngột ngạt.
– Nói cho ta biết, ông tiếp tục trên một sinh viên khác. Con có tin vào Chúa Jesus Christ không?
Cậu sinh viên này lạc giọng. “Vâng, thưa giáo sư, con tin”.

Ông ta dừng lại. “Khoa học nói rằng bạn có năm giác quan. Chúng ta dùng chúng để nhận diện và quan sát thế giới chung quanh chúng ta. Vậy có bao giờ các cậu thấy Chúa Jesus Christ chưa?

– Thưa không, con chưa bao giờ găp Ngài.
– Vậy hãy nói cho chúng ta biết, con có nghe Chúa Jesus của con bao giờ không?
– Thưa không, con chưa bao giờ nghe.
– Thế, con có bao giờ cảm giác Chúa Jesus không, nếm được Jesus hay là ngửi được Chúa Jesus của con không? Thế con có bao giờ cảm ứng được về Chúa Jesus Christ hay là Đức Chúa Trời trong cùng ý nghĩa đó không?
– Không, thưa thầy, con e rằng con chưa cảm nhận như vậy bao giờ.
– Vậy mà cậu vẫn tin vào Ngài sao?
– Vâng.
– Theo nguyên tắc của kinh nghiệm, thử nghiệm và chứng minh, khoa học xác nhận rằng Đức Chúa Trời không hiện hữu. Vậy thì cậu biện minh thế nào về điều đó?
– Không có điều gì, thưa thầy. Con chỉ có Đức Tin.
– Vâng, đức tin. Vị giáo sư lập lại. Và chính đó là điều mà khoa học thấy là nan giải đối với đức tin về Đức Chúa Trời. Không có bằng chứng gì cả, mà chỉ có đức tin.
Cậu sinh viên đứng im lặng một lúc, trước khi đặt câu hỏi lần đầu tiên với vị giáo sư:
– Thưa thầy, có một điều gì gọi là “nhiệt”, là sức nóng chăng?
– Vâng.
– Và có điều gì gọi là “hàn”, là sức lạnh không?
– Có chứ, có sức lạnh chú!
– Thưa thầy, không có.
Vị giáo sư quay nhìn cậu sinh viên, và cảm thấy hết sức tò mò muốn tìm hiều. Căn phòng bỗng dưng im lặng. Cậu sinh viên bắt đầu giải thích.
– Chúng ta có nhiều thứ nhiệt, đa nhiệt lượng, siêu nhiệt lượng, đại nhiệt lượng, tiểu nhiệt lượng,vô tận nhiệt lượng, vô nhiệt lượng, nhưng chúng ta không có thứ gì gọi là “hàn lượng”. Chúng ta có thể đưa hàn độ xuống 458 độ F dưới zero. Mỗi cơ thể hay vật thể chỉ nghiên cứu được khi truyền năng lượng, và nhiệt là thứ đã làm cho cơ thể hay vật thể có thể truyền năng lượng. Độ-không tuyệt đối (-458F) là sự hoàn toàn vắng mặt của cái gọi là Nhiệt. Như giáo sư thấy đó, Hàn, sức lạnh chỉ là chữ chúng ta dùng để nói lên sự thiếu vắng của Nhiệt mà thôi. Chúng ta không thể đo Hàn độ. Nhiệt độ có thể được đo bằng các đơn vị của hàn-thử biểu. Hàn thì không phải là đối nghịch với Nhiệt, thưa giáo sư, mà nó chỉ là sự vắng mặt của Nhiệt mà thôi.

Sự im lặng phủ khắp căn phòng. Đâu đó, một tiếng rơi nhẹ của cây bút trở thành vang dội như tiếng búa.
– Còn sự tối tăm thì sao, thưa giáo sư? Có cái gì được gọi là sự tối tăm không?
– Vâng, có. Vị giáo sư trả lời không do dự. Đêm tối thì chúng ta phải gọi là gì nếu không phải là sự tối tăm?
– Thưa thầy, thầy lại sai nữa rồi. Sự tối tăm không phải là điều hay sự gì cả, mà nó chính là sự vắng mặt của điều gì đó. Chúng ta có ánh sáng thấp, ánh sánh bình thường, ánh sáng rực rỡ, ánh sáng chớp nhoáng, nhưng nếu liên tục mà chúng ta không có ánh sáng, thì chúng ta gọi đó là bóng tối, có phải không? Đó là cái nghĩa mà chúng ta dùng để định nghĩa cho cái từ đó. Trong thực tế, bóng tối không có hiện hữu. Nếu nó mà hiện hữu thì chúng ta đã làm cho bóng tối càng tối hơn, có phải vậy không?
Vị giáo sư bắt đầu mỉm cười với cậu sinh viên đang đứng trước mặt ông. Chắc khóa học này sẽ vô cùng hứng thú, ông tự nhủ:
– Thế thì cậu này muốn chứng minh điểm gì đây?
– Vâng, thưa giáo sư. Tôi muốn chứng minh rằng nền tảng triết học của giáo sư từ khởi đầu đã có điểm khiếm khuyết. Do đó sự kết luận của giáo sư khi đặt trên nền tảng đó cũng không được vững chắc.
Không dấu được nỗi ngạc nhiên, vị giáo sư hỏi lại: “Không vững chắc?” Cậu mày có thể giải thích được không?
– Thầy lý luận dựa trên luật đối-tính. Thầy cho rằng có Sự Sống rồi thì là có Sự Chết. Một Đức Chúa Trời tốt và một Đức Chúa Trời xấu. Thầy xem quan niệm về Thượng Đế hay Đức Chúa Trời như là một điều hữu hạn có thể đo lường được. Thưa thầy, khoa học còn chưa giải nghĩa nổi một tư-tưởng! Khoa học dùng điện lực và từ trường, nhưng có bao giờ thấy nó đâu, chứ đừng nói đến chuyện hiểu thấu được chúng một cách hoàn toàn. Nhìn xem Sự Chết như là đối nghịch với Sự Sống là chúng ta không hiểu biết đến sự kiện là tự trong bản chất Sự Chết không hề hiện hữu. Sự Chết không phải là điều gì đối nghịch với Sự Sống, mà chính là sự vắng mặt của Sự Sống. Bây giờ, thưa giáo sư, có phải thầy dạy sinh viên của thầy là: họ thoát thân từ dòng khỉ mà ra có phải không?
– Cậu này nói đúng, nếu dựa vào tiến trình của thuyết tiến hóa. Vâng.
– Có bao giờ thầy thấy cái tiến hóa đó diễn ra trước mặt thầy chưa?
Vị giáo sư lắc đầu, vẫn tiếp tục mỉm cười. Và nhận ra rằng cuộc tranh luận thật mạnh mẽ, khóa dạy này sẽ mang lại cho ông nhiều thích thú.

Người sinh viên nói tiếp:
– Bởi vì không một ai đã từng quan sát tiến trình của sự tiến hóa thực sự diễn ra hay không, và cũng lại càng không chứng minh được cái tiến trình này là một điều gì đang cố gắng hình thành. Như vậy không phải là giáo sư chỉ đang dạy ý kiến của mình thôi sao? Và bây giờ, thầy không phải là một nhà khoa học, mà chỉ là người giảng giáo điều mà thôi!
Cả lớp bỗng bùng vỡ lên với những âm thanh nhốn nháo. Cậu sinh viên vẫn giữ im lặng cho đến khi cả lớp bình lặng lại.
– Bây giờ con muốn tiếp tục về quan điểm của thầy lúc nãy với người bạn kia. Để con cho thầy một thí dụ về điều con muốn nói.
Rồi cậu đảo mắt đi khắp căn phòng:
– Có bạn nào trong lớp, có bao giờ thấy được bộ óc của giáo sư chưa? Cả lớp vỡ ra với những tiếng cười.
– Có ai ở đây “nghe” được bộ óc của giáo sư đây chăng? Cậu lại tiếp. Hay là cảm giác được bộ óc của thầy chăng? … Không ai có vẻ đã làm được chuyện đó. Vậy thì theo luật của kinh nghiệm, của thử nghiệm, của khoa học chứng minh, khoa học xác nhận rằng thầy không có bộ óc, xét theo nhiều phương diện, thưa thầy! Do vậy, nếu khoa học xác nhận rằng thầy không có bộ óc, làm sao chúng con có thể tin cậy được những điều thầy giảng thuyết nữa, thưa thầy?
Căn phòng bỗng im lặng. Vị giáo sư nhìn chăm vào cậu sinh viên, không đoán được ông đang nghĩ gì. Cuối cùng, sau những giây phút gần như miên viễn, vị giáo sư già trả lời: “Tôi đoán là các cậu phải thu nhận những lời đó bằng niềm tin mà thôi”.

Cậu sinh viên nói: “Vậy bây giờ thầy chấp nhận rằng có cái gọi là đức-tin, và thực ra, đức-tin hiện hữu cùng với sự sống.” Cậu tiếp: “Bây giờ, có cái gì gọi là điều ác chăng?”

Không mấy tự tin, vị giáo sư trả lời: “Dĩ nhiên là có. Chúng ta thấy nó mỗi ngày. Nó hiện diện trong những chuyện điển hình về sự vô nhân đạo giữa người và người. Những tội ác chồng chất, và bạo động xảy ra khắp nơi trên thế giới. Những thể hiện đó gọi là gì nếu không phải là điều ác?”
Đến đây, người sinh viên trả lời:
Thưa thầy, điều ác không có hiện hữu, hay ít nhất là nó không hiện hữu trong tự thân. Điều ác chỉ giản dị là Sự Vắng Bóng của Đức Chúa Trời. Là sự vắng mặt của Thượng Đế. Cũng giống như bóng tối, sự lạnh-lẽo, chỉ là cái từ mà người ta đặt ra để diễn tả sự vắng mặt của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã không tạo ra điều ác. Điều ác chỉ là hậu-quả xảy ra, khi con người không có tình yêu của Chúa trong trái tim họ. Nó giống như sự lạnh-lẽo chỉ đến khi không có sự hiện diện của sức nóng, và bóng tối chỉ đến khi nào không có ánh sáng.


Vị giáo sư ngồi xuống. Câu chuyện chấm dứt.
Cậu sinh viên đó chính là Albert Einstein.